Giới thiệu chung

Trường Đại học Y Hà Nội phối hợp với ISAP (Chương trình ĐIều trị Nghiện chất Lồng ghép) của Đại học UCLA, Hoa Kỳ khởi động  dự án thành lập Trung tâm Chuyển giao Công nghệ điều trị Nghiện chất và HIV (viết tắt là VHATTC) vào cuối năm 2011 với sự hỗ trợ từ phía Chương trình cứu trợ khẩn cấp về phòng chống HIV/AIDS của Tổng thống Hoa Kỳ  (PEPFAR) và Cục Quản lý lạm dụng Chất gây nghiện và Sức khỏe tâm thần (Substance Abuse and Mental Health Services Administration- SAMHSA) Hoa Kỳ, phối hợp với Trường Đại học Y Hà Nội và Chương trình Điều trị lạm dụng nghiện chất lồng ghép (Integrated Substance Abuse Program- ISAP) thuộc Trường Đại học California, Hoa Kỳ.

Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến tháng 6 năm 2012, trên toàn quốc có hơn 200.000 người nhiễm HIV còn sống, trong đó có hơn 58.000 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS, và đã có hơn 60.000 người tử vong do HIV/AIDS. Mặc dù trong những năm gần đây lây truyền qua đường tình dục ngày càng gia tăng mạnh mẽ, lây nhiễm qua tiêm chích ma tuý không an toàn vẫn là nguyên nhân chủ yếu. Có gần 40% người được phát hiện nhiễm HIV là người tiêm chích ma tuý. Rất nhiều trường hợp lây nhiễm qua đường tình dục là bạn tình của người đã từng tiêm chích ma tuý. Vì vậy tiêm chích ma tuý không an toàn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và tiếp tục duy trì dịch HIV tại Việt Nam.  Mặt khác diễn biến của việc sử dụng ma tuý ở Việt Nam ngày càng phức tạp trong đó việc sử dụng các chất ma tuý tổng hợp như ma tuý đá (crystal methamphetamine), ecstasy (MDMA) hay ketamine là những chất có ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ (bao gồm nguy cơ lây nhiễm HIV do quan hệ tình dục không an toàn) ngày càng trở nên phổ biến hơn trong giới trẻ ở các thành phố lớn.

Từ giữa những năm 1990, Việt Nam đã thử nghiệm một loạt các mô hình can thiệp nhằm làm giảm gánh nặng của tiêm chích ma tuý đối với sức khoẻ và xã hội, bao gồm các hoạt động như cai nghiện tại cộng đồng và trung tâm, phân phát và trao đổi bơm kim tiêm sạch, và điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone. Từ năm 2008 đến nay, từ chỗ triển khai thí điểm ở Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh, chương trình đã nhanh chóng phát triển ra hơn 11 tỉnh thành phố và số bệnh nhân là gần 10.000 người.  Theo Bộ Y tế, kế hoạch mở rộng chương trình đến năm 2015 sẽ có hơn 80.000 người nghiện heroin được điều trị trong hơn 200 cơ sở điều trị trong cả nước. Bên cạnh đó các nỗ lực xây dựng các cơ sở điều trị nghiện mở  và tự nguyện ở cộng đồng cũng là một chiến lược quan trọng trong việc thay đổi diện mô hình điều trị cai nghiện tập trung trong các trung tâm của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Một trong những thách thức của các chiến lược quan trọng nói trên là việc đảm bảo đội ngũ cán bộ đáp ứng được các tiêu chuẩn về chuyên môn và được đào tạo cơ bản cũng như liên tục. Trong thời gian qua, Bộ Y tế Việt Nam phối hợp với sự hỗ trợ của PEPFAR, Quỹ Toàn Cầu, Ngân Hàng Thế giới thông qua các tổ chức như FHI360 và SCMS đã tổ chức các khoá tập huấn về điều trị thay thế bằng Methadone đáp ứng bước đầu nhu cầu phát triển của chương trình. Tuy nhiên các hoạt động này còn chưa gắn với hệ thống đào tạo y khoa và y tế công cộng ở Việt Nam, và sự tham gia của các cơ sở thực hành khám chữa bệnh ví dụ như hệ thống bệnh viện của ngành tâm thần còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Công nghệ Điều trị Nghiện chất ra đời đang từng bước nâng cao năng lực cho các cán bộ trong lĩnh vực điều trị nghiện, kết nối giữa đào tạo và thực hành, giữa các cơ sở điều trị với cơ sở đào tạo nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu phát triển nhanh chóng và bền vững lĩnh vực điều trị nghiện tại Việt Nam. Mục đích của dự án và trung tâm là xây dựng năng lực đào tạo trước mắt để phục vụ cho việc mở rộng chương trình điều trị thay thế bằng Methadone và lâu dài hơn là xây dựng năng lực về y học nghiện nói chung và nghiện chất nói riêng tại Trường Đại học Y Hà Nội, góp phần vào việc kiểm soát lây nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam. 

Các tổ chức đối tác

  • VAAC

  • DSEP/MOLISA

  • FHI360

  • ATTC

  • PEPFAR