Lồng ghép các dịch vụ y tế giúp cải thiện hiệu quả điều trị trên bệnh nhân nhiễm HIV tiêm chích ma túy tại Ukraine

11/11/2013
Email Print

Chethan Bachireddy, Michael C. Soule, Jacob M. Izenberg, Sergey Dvoryak, Konstantin Dumchev, Frederick L. Alticea.
Đăng tải trên tạp chí Drug and Alcohol Dependence (27-9-2013)

Tóm tắt

Bối cảnh: Người tiêm chích ma túy (NTCMT) không đạt hiệu quả tốt khi điều trị và là nguyên nhân chính gây lây nhiễm HIV tại các nước thu nhập trung bình tại Đông Âu và Trung Á. Chúng tôi đánh giá mô hình các dịch vụ chăm sóc y tế cho NTCMT nhiễm HIV được lồng ghép hoặc ở cùng địa điểm với nhau. Mặc dù quốc tế đã có nhiều khuyến cáo, nhưng mô hình này vẫn chưa phát triển rộng rãi, cũng như chưa được đánh giá thực nghiệm.

Phương pháp: Năm 2010, một nghiên cứu cắt ngang đã chọn mẫu ngẫu nhiên 296 NTCMT nghiện chất dạng thuốc phiện và nhiễm HIV từ hai vùng đại diện cho dịch HIV tại Ukraine và là các vùng có ba mô hình lồng ghép/cùng địa điểm (ICL), không cùng địa điểm (NCL) và giảm tác hại/tiếp cận cộng đồng (HRO). Mô hình ICL bao gồm các dịch vụ HIV, điều trị nghiện và lao tại chỗ, NCL chỉ điều trị nghiện, và HRO cung cấp tư vấn, bơm kim tiêm và chuyển gửi, nhưng không điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện (OST). Kết quả đầu ra sơ cấp là việc được chăm sóc y tế chất lượng tốt, và được đo qua chỉ số chất lượng chăm sóc y tế (QHI) phức hợp. Điểm QHI phức hợp biểu thị phần trăm của tám chỉ số được khuyến nghị sử dụng trong điều trị HIV, nghiện và lao. Kết quả đầu ra thứ cấp là chỉ số QHI của cá nhân và thang đo chất lượng sống liên quan đến sức khỏe (HRQol.).

Kết quả: Trung bình, bệnh nhân từ mô hình ICL có điểm QHI phức hợp cao hơn rõ rệt so với bệnh nhân từ NCL và HRO (71,9% so với 54,8% so với 37,0%, p<0,001), thậm chí cả sau khi kiểm soát các nhân tố nhiễu tiềm năng. So sánh với bệnh nhân từ NCL, bệnh nhân từ ICL có nhiều khả năng hơn trong việc được điều trị bằng thuốc kháng virus (49,5% so với 19,2%, p<0,001), đặc biệt nếu CD4 ≤ 200 (93,8% so với 62,5%, p<0,05); liều OST khuyến cáo sử dụng (57,3% so với 41,4%); và điều trị dự phòng isoniazid (42,3% so với 11,2%, p<0,001). Người được điều trị OST có điểm HRQol cao hơn hẳn người không được điều trị (p<0,001); tuy nhiên, giữa điểm HRQol không khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm ICL và NCL.

Kết luận: Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy bản thân OST đã có hiệu quả cải thiện chất lượng sống, trong khi đó, nhận điều trị tại cơ sở lồng ghép cải thiện các chỉ số chất lượng chăm sóc y tế cho NTCMT cả về mặt quần thể lẫn cá nhân.

Để biết thêm thông tin, xin xem tại đây.